Document
Đóng
CHỮ LAI PAO- CHỮ VIẾT CỦA NHÓM THÁI TAY MƯƠNG Ở NGHỆ AN


                                                                     ThS. Vi Tân Hợi


Trong vốn di sản văn hóa của người Thái, chữ viết của người Thái đã có từ rất lâu đời và đóng vai trò rất quan trọng, không thể thiếu trong đời sống của dân tộc Thái. Chữ Thái Lai Pao là một trong 8 hệ chữ Thái ở Việt Nam là chữ chữ viết riêng của đồng bào Thái nhóm Tay Mương (Hàng Tổng) sinh sống ở thượng nguồn sông Cả (Nặm Pao) thuộc  Phủ Tương Dương (gồm các huyện Tương Dương, Con Cuông, Kỳ Sơn). Chữ này còn có tên khác là Lai Liệp Nặm (xuôi theo dòng nước).

Tác giả cùng NNƯT Vi Khăm Mun dịch bản khế ước cầm cố đất từ năm 1872 được cất giữ tại nhà ông Lô Văn Thoại, bản Lả, xã Lượng Minh


Từ những năm 90 của thế kỳ XX đến nay đã có một số nhà khoa học như Michel Ferlus (Trung tâm Nghiên cứu khoa học Quốc gia Pháp -CNRS), Trần Trí Dõi (Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn), NNƯT. Sầm Văn Bình (Quỳ Hợp, Nghệ An) và nhóm nghiên cứu bảo tồn chữ Thái Lai Pao của huyện Tương Dương đã tiến hành nghiên cứu về chữ Thái Lai Pao. Tuy nhiên, quá trình tiếp cận chữ Thái Lai Pao đã gặp phải một số khi khăn:

- Dạng thức vật chất của ngôn ngữ Thái nhóm Tay Mương ở huyện Tương Dương là những quyển sách viết bằng chữ Thái Lai Pao một mặt giấy do đồng  cáo cư dân vùng này tự chế (giấy dó), sau đó cuộn tròn lại, bỏ trong ống tre, nứa có nắp đẩy cận thận. Hiện nay các loại sách nay hầu như không tìm thấy trên địa bàn.

- Số người biết đọc, biết viết chữ Thái hệ Lai Pao trên địa bàn còn rất ít, họ đều đã cao tuổi, sức yếu. Chữ Thái Lai Pao có nguy cơ biến mất cùng với sự ra đi của họ. Gần đây một số người tâm huyết trẻ tuổi đã biết đọc, biết viết thành thạo chữ Thái hệ Lai Pao nhờ sự truyền dạy của cáo nghệ nhân cao tuổi (só này cũng không nhiều).

- Từ trước tới nay chưa hề có một nghiên cứu cụ thể nào về chữ Lai Pao. Đa phần, đồng bào Thái nhóm Tay Mương có biểu hiện coi nhẹ tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, chưa hình thành ý thức bảo tồn hệ chữ viết này.

- Cơ sở vật chất, phương tiện, trang bị, tài liệu sử dụng cho việc dạy và học chữ Thái hệ Lai Pao không có. Một số mô hình dạy và học xuất hiện trên địa bàn đều là tự phát trong cộng đồng, tuy có nhiều cố gắng nhưng gặp không ít khó khăn. Sau này huyện và Ban Dân tộc tỉnh có đầu tư cho việc mở lớp truyền dạy chữ Thái hệ Lai Pao, song còn manh mún, hiệu quả hạn chế.

- Nguồn nhân lực bảo đảm cho việc dạy học chữ Thái hệ Lai Pao quá ít, một số chưa được bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, còn hạn chế ở nhiều mặt.

Vượt qua rào cản của những khó khăn thách thức trên, các nhà nghiên cứu đã bắt tay vào công việc nghiên cứu, khai thác tư liệu trên địa bàn; dựa vào kết quả nghiên cứu các hệ chữ Thái khác trên cả nước (chữ Thái Mường Lò (Yên Bái), Mường Min (Quan Sơn, Thanh Hoá) và Sơn La, Điện Biên, Lai Châu…); căn cứ vào đặc điểm ngữ âm riêng của nhóm Thái Tay Mương, Nghệ An; căn cứ các văn bản sưu tầm được ghi chép theo kiểu phiên âm. Tài liệu do một số người tâm huyết muốn bảo tồn chữ Thái hệ Lai Pao, họ đã ghi chép lại cách đây hàng chục năm về trước; xin  ý kiến, nhận xét của già làng về phạm vi sử dụng và tính đặc thù trong quá trình sử dụng chữ Thái...Tiếp cận các văn bản cổ để in sao hoặc chụp ảnh để làm cơ sở nghiên cứu, tìm hiểu tự dạng cáo chữ cái, các nguyên âm, phụ âm và các vần; tìm hiểu quy luật ghép vần để đọc được nội dung. Sau đó chia sẻ văn bản, trao đổi thông tin, tìm kiếm sự hỗ trợ từ phía các nhà chuyên môn và những người qua tâm khác thông qua mạng Internet.  Các nhà nghiên cứu còn tiếp cận thông qua viêc giao lưu, trao đổi với già làng những người am hiểu về các hệ chữ Thái để có nhận xét, tìm hiểu làm rõ sự khác biệt ở từng địa phương, nhất là sự khác biệt về tự dạng trong các văn bản cổ. Đồng thời tiếp cận qua hệ thống thư viện, bảo tàng, các phương tiện thông tin đại chúng, tham gia các hội thảo Chương trình Thái học, hội thảo về chữ Thái…


Một bản khế ước cầm cố đất được viết ngày 15/02/1872 (năm Tự Đức thứ 25) bằng chữ Thái Lai Pao được cụ Lô Văn Liệu, nguyên Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện Tương Dương tìm thấy trong chuyển công tác ở xã và mua về năm 1946 với giá trị 20 lạng bạc (8 nén) hiện nay đang được lưu giữ tại nhà ông Lô Văn Thoại, Bản Lả, xã Lượng Minh, huyện Tương Dương


Năm 1912, Théodore Guignard (Pháp) đã tiếp cận chữ Liệp Nặm thông qua 2 nhà tri thức Thái đọc và viết thành thạo loại chữ này. T. Guinard đã này cảnh báo “Rất có thê sau hai nhà tri thức này, không còn một người nào đọc và viết được chữ Thái Lai Pao nữa và vì thế cần phải ngay lập tức tập hợp lại, có một sự truyền bá để nó không bị lãng quên”  

Năm 1991, Giáo sư Michel Ferlus  vào Nghệ An, Quảng Bình để nghiên cứu nhóm ngôn ngữ Việt Mường. Ông rất quan tâm đến tiếng Thái và nhất là một số phương ngữ của tiếng Thái được sử dụng ở Nghệ An, trong đó có chữ Lai Pao, một kiểu chữ viết nổi tiếng được sử dụng rộng rãi vào đầu thế kỷ XX về trước ở huyện Tương Dương - Nghệ An nhưng từ đầu thế kỷ này thì không còn được sử dụng nữa. Tại huyện Tương Dương GS. Michel Ferlus đã đến một số bản làng có người Thái sinh sống như Bản Lả, xã Lượng Minh; Xiêng Líp, xã Yên Hoà;…Tại đây, ông đã thu thập được một số bản viết tay, ghi chép lại rồi đọc và dịch chúng. GS. Michel Ferlus nói: "Tôi đã nhiều lần đến Việt Nam, tôi đã tiến hành nhiều cuộc nghiên cứu tại thực địa với đồng nghiệp của tôi, phó giáo sư Trần Chí Dõi. Tôi rất quan tâm đến tiếng Thái và nhất là tiếng Thái được sử dụng ở Nghệ An. Có thể nói rằng chúng chưa bao giờ được nghiên cứu một cách nghiêm túc. Tôi thấy rằng, đây qủa là một thiếu xót trong tổng thể nghiên cứu về dân tộc Thái. Chỉ riêng ở Việt Nam, nơi có khoảng hơn 1 triệu người Thái, đúng hơn là người nói tiếng Thái, chúng tôi đã tìm thấy khá nhiều kiểu chữ viết: Thứ nhất là loại chữ Thái của người Thái đen, Thái trắng ở vùng Tây Bắc. Loại chữ thứ hai là chữ của người Thái Thanh hay Nam Thanh ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An. Thứ ba là chữ của người Thái ở Quỳ Châu. Cuối cùng loại chữ thứ tư mà đây chính là điểm mạnh trong nghiên cứu của chúng tôi, đó là Lai Pao, loại chữ do người Thái Hàng Tổng sống ở vùng Tương Dương, Nghệ An sử dụng. Chúng tôi đã có khá nhiều tài liệu ngay tại Việt Nam và ngay trong một số thư viện của Pháp. Hiện nay chúng tôi đang tiến hành đọc chúng và cũng không phải dễ dàng gì khi đọc và dịch lại những tài liệu này."

Tiếp cận với các văn bản cổ, ông tiến hành chụp ảnh bản viết tay sau đó phóng to ảnh lên bằng máy photocopy rồi can lại, cuối cùng ông có được tổng số là 8 trang nhỏ. Theo GS. Michel Ferlus thì chữ Thái Lai Pao là dạng chữ được dùng trong một phạm vi lãnh thổ khá hẹp. Hiện nay số người biết đến loại chữ này không nhiều và những văn bản viết tay loại chữ này hiện còn khá ít. Theo tư liệu nghiên cứu điền dã tháng 5/1997. Chữ Lai Pao có 26 chữ cái thể hiện âm đầu. Trong số này có 18 chữ cái thể hiện một âm đầu và 8 chữ cái thể hiện 4 âm đầu. Về chữ cái nguyên âm và vần, chữ Thái Lai Pao sử dụng 24 con chữ để thể hiện 16 nguyên âm và 5 vần. Những phát hiện này của giáo sư Ferlus và đồng nghiệp đã góp phần không nhỏ cho việc nghiên cứu và bảo tồn chữ Thái Lai Pao.

Ông Lô Văn Thoại là người Tương Dương đầu tiên nghiên cứu, tìm hiểu và khởi xướng truyền dạy chữ Thái hệ Lai Pao. Vào năm 1946, bố của ông Lô Văn Thoại là Lô Văn Liệu, thời đó là Chủ tịch Ủy ban hành chính huyện Tương Dương, Đại biểu Quốc hội khóa I, trong một lần đi công tác, tình cờ gặp một văn bản viết bằng một loại chữ rất lạ, linh cảm đây là chữ Thái cổ, chữ mà thời trước vẫn hay dùng, ông Thoại bấm bụng mua với cái giá 20 lạng bạc (khoảng 8 nén). Cụ Lô Văn Liệu đưa về cất giữ ở nhà và giao cho con trai cả là Lô Văn Thoại phải tìm thầy học để đọc được văn bản đó. Nghe lời cha, ông Lô Văn Thoại đã đi tìm thầy để học chữ. Nghe mọi người nói rằng có ông Hương Uẩn ở xã Yên Na là còn đọc được chữ Lai Pao. Thế nhưng chưa kịp tìm đến thì ông Hương Uẩn đã qua đời. Về sau ông Lô Văn Thoại lại được người ta mách bảo, ở xã Nga My có ông May Liêu biết đọc, biết viết chữ Thái cổ, thế là ông Lô Văn Thoại lội bộ hai ngày đường vào xã Nga My, may mắn gặp được ông May Liêu.

Ông May Liêu hơn ông 2 tuổi nhưng biết đọc chữ cổ, trở thành vị cứu tinh đã giúp ông những bước đầu tiên học chữ này. Theo ông, chữ Lai Pao ít người biết đọc, biết viết nhưng nếu tìm được người dạy thì học nó không khó lắm. Chỉ qua mấy lần nghe ông May Liêu đọc và ghi chép cẩn thận ông đã có thể đọc được nội dung ghi trong tờ văn bản cổ. Đó là giấy cầm cố đất của chánh tổng Huội Nguyên, khees ước này được viết vào ngày 15/02/1872 tức là năm Tự Đức thứ 25.

Từ những văn bản cổ còn lưu được trong tủ sách gia đình, ông Lô Văn Thoại đã tập hợp mẫu chữ cái, phân loại theo phụ âm, nguyên âm và một số ký tự khác. Theo kết quả khảo cứu của ông Lô Văn Thoại thì chữ Lai Pao cổ có tất cả 59 ký tự, trong đó có 20 cặp phụ âm, 19 nguyên âm và ký tự khác. Trong quá trình sử dụng chữ Lai Pao, ông Lô Văn Thoại và các cộng sự đã bổ sung thêm 8 ký tự (Ghó, Gho, Só, So, Ró, Ro, Tró, Tro) mượn các ký tự của tiếng Việt, đó là G, S, R,Tr để thuận lợi khi viết tên người hoặc địa danh.

Từ kết quả khảo cứu của mình, ông Lô Văn Thoại đã biên soạn tài liệu dạy chữ Lai Pao để dùng cho dòng họ của ông ở Bản Lả, xã Lượng Minh. Cuốn tài liệu này chỉ dày hơn 20 trang viết tay, chủ yếu là bảng chữ cái, hệ thống dấu thanh (tô mái), cách ghép vần, đánh vần, hướng dẫn viết chữ cái, viết vần, viết câu…

Sau khi gia đình chuyển về thị trấn Hoà Bình, năm 2005 ông đề đạt tâm nguyện của mình mong muốn được bảo tồn chữ Lai Pao. Tâm nguyện của ông được UBND huyện Tương Dương đồng ý bằng chủ trương “Phổ biến, truyền dạy chữ Thái Lai Pao” và giao cho ông Lương Bá Vin- Trưởng Phòng Văn hoá và Thông tin trực tiếp quản lý.

Sau đó, ông Lô Văn Thoại, Kha Văn Hợi, Lương Bá Vin và lãnh đạo UBND huyện Tương Dương tham gia Hội thảo Chương trình Thái học ở huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình bàn thảo về vấn đề phát triển chữ viết của dân tộc Thái. Từ hội thảo Mai Châu trở về, UBND huyện Tương Dương quyết định giao cho ông Lô Văn Thoại (Bản Lả), Lô Khăm Phi (Na Tổng, xã Tam Thái), ông Vi Khăm Mun (bản Xiêng Líp, xã Yên Hoà) soạn thảo Tài liệu dạy chữ Lai Pao và tổ chức mở lớp ở một xã trong huyện đồng thời giao ông Lương Bá Vin- Trưởng phòng Văn hoá và Thông tin phụ trách. Lớp học đầu tiên, mở tại Hội Trường Huyện uỷ huyện Tương Dương vào tháng 12 năm 2005, có 36 học viên là cán bộ, giáo viên người dân tộc Thái công tác trên địa bàn huyện Tương Dương.

Cuốn Tài liệu dạy chữ Lai Pao này dung lượng chỉ 53 trang viết tay trên giấy khổ A4, nội dung chủ yếu là giới thiệu về chữ cái, cách đánh vần, mẫu câu, mẫu tự,…Mặc dù cách thể hiện các quy luật của chữ Lai Pao trong tài liệu còn giản đơn, nhưng cuốn tài liệu cũng đã phục vụ tích cực cho việc truyền dạy chữ Lai Pao trong suốt hơn 10 năm qua góp phần ngăn chặn chữ Lai Pao trôi vào lãng quên như số phận của bao di sản khác.

NNƯT. Vi Khăm Mun qua nhiều năm nghiên cứu, sưu tầm đã xây dựng được cuốn từ vựng hơn 1.000 từ, biên soạn lại Tài liệu dạy học chữ Thái hệ Lai Pao theo phương pháp của ông Lô Văn Thoại và cuốn Ngữ pháp chữ Thái Lai Pao. Ông Vi Tân Hợi, Lô May Hằng đã nghiên cứu các đặc trưng văn hoá, phong tục, tập quán và sưu tầm hàng chục truyện cổ tích, truyền thuyết, thần thoại, hàng trăm câu tục ngữ, hàng chục bài ca dao, dân ca, đồng dao dân tộc Thái phục vụ đắc lực cho việc biên soạn tài liệu và dạy học chữ Thái hệ Lai Pao trên địa bàn Tương Dương, Con Cuông và Kỳ Sơn.

Gần đây qua nhiều lần hội thảo, tham khảo ý kiến của các chuyên gia về chữ Thái như NNUT Sầm Văn Bình (Quỳ Hợp), Vi Ngọc Chân (Quỳ Châu), và các nhà nghiên cứu chữ Thái ở tỉnh Hoà Bình, Sơn La, Điện Biên và dựa trên quy luật, nguyên tắc xây dựng chữ Thái nói chung, các thành viên nhóm bảo tồn chữ Thái Lai Pao huyện Tương Dương đã cải tiến 8 ký tự mượn các chữ cái trong tiếng Việt như Ró, Ro (R), Só, So (S), Gó, Go (G) và Tró, Tro (Tr) để khác biệt chữ Việt và gần hơn với chữ Thái nói chung và chữ Thái Lai Pao nói riêng.

NNƯT. Sầm Văn Bình ở bản Yên Luốm, xã Châu Quang, huyện Quỳ Hợp đã có thời gian khá dài nghiên cứu về chữ Thái  Việt Nam, tham gia nhiều cuộc hội nghị, hội thảo ở nhiều địa phương trên cả nước do Chương trình Thái học Việt Nam và Trung tâm bảo tồn và phát triển tri thức bản địa dân tộc Thái tổ chức. Đã bảo vệ thành công đề tài khoa học “Nghiên cứu, biên soạn tài liệu dạy học chữ Thái hệ Lai Tay ở huyện Quỳ Hợp” vào năm 2009.

Trong quá trình nghiên cứu chữ Thái Việt Nam nói chung và chữ Thái Lai Tay nói riêng, NNƯNNT. Sầm Văn Bình đã nghiên cứu về chữ Thái Lai Pao của huyện Tương Dương. Năm 2013, NNƯT. Sầm Văn Bình đã phối hợp với NNƯT. Vi Khăm Mun (Tương Dương) tham khảo font chữ Thái Lai Pao do một số giáo viên dạy môn Tin học ở huyện Tương Dương đang làm dở dang để thiết kế font chữ Thái hệ Lai Pao đưa vào máy vi tính phục vụ cho việc biên soạn tài liệu dạy học và phục vụ nghiên cứu văn hoá Thái và phổ biến chữ Thái hệ Lai Pao trên các phương tiện thông tin đại chúng. Từ năm 2014-2015 NNUT. Sầm Văn Bình trong quá trình nghiên cứu, biên soạn từ điển tiếng Thái đã phối hợp với ThS. Vi Tân Hợi (Tương Dương) biên soạn Từ Vựng tiếng Thái Tay Mương ở huyện Tương Dương.

Kết quả nghiên cứu của NNƯT. Sầm Văn Bình đã khắc phục một số hạn chế trong nghiên cứu và hướng dẫn học chữ Thái Lai Pao của các nghệ nhân huyện Tương Dương.

Từ năm năm 2005 lại đây, việc tổ chức dạy học chữ Thái hệ Lai Pao đã được khôi phục ở huyện Tương Dương và Con Cuông, là 2 địa phương có đông đồng bào Thái sinh sống trên lưu vực sông Cả (Nặm Pao). Chữ Thái hệ Lai Pao cũng được thường xuyên tổ chức thi trong Lễ hội Đền Vạn- Cửa Rào- một lễ hội văn hoá tâm linh truyền thống ở huyện Tương Dương.

Năm 2015 Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An cho phép huyện Tương Dương triển khai thực hiện đề tài khoa học “Nghiên cứu, biên soạn tài liệu và tổ chức dạy học chữ Thái hệ Lai- Pao ở huyện Tương Dương, Nghệ An” và giao NCS. Vi Tân Hợi làm chủ nhiệm đề tài. Nhiệm vụ của đề tài là biên soạn bộ sách giáo khoa, từ vựng, ngữ pháp, bài tập, sách tham khảo, tập viết và xây dựng bộ font, bộ gõ, môi trường soạn thảo chữ Thái hệ Lai- Pao.

Việc một đề tài khoa học về chữ Lai- Pao được thực hiện đã đáp ứng mong mỏi của đông đảo đồng bào dân tộc Thái ở phía Tây Nam Nghệ An và thỏa ước tâm nguyện của những người đã khuất mà sinh thời họ luôn đau đáu cho việc bảo tồn chữ viết của dân tộc mình./.

                                                                            ThS. Vi Tân Hợi

                                                                            


CÁC BÀI LIÊN QUAN
Mạng lưới bảo tồn tri thức bản địa dân tộc Thái VTIK
Hội thảo khoa học về chữ Thái
Giải thưởng Balaban: Bảo tồn di sản chữ Nôm
Hội thảo Công nghệ Thông tin về chữ Thái, chữ Chăm
Người giữ hồn chữ Thái ở xứ Thanh
Khi cán bộ đi học “cái chữ”
Người thầy dạy chữ Thái Lai Pao
Người phụ nữ đã thổi hồn vào con chữ Thái cổ
Bản quyền thuộc Trung tâm Công nghệ Thông tin Thừa Thiên Huế