Document
Đóng
VỀ DÂN TỘC TÀY ĐÀ BẮC - HÒA BÌNH QUA MỘT SỐ PHONG TỤC TẬP QUÁN

Đức Chôm (Hòa Bình)


Đồng bào Tày - Thái  ở huyện Đà Bắc có tập quán cưới xin rất độc đáo mang đậm bản sắc văn hoá. Họ nhà trai phải chọn ông mối tài giỏi (biết chữ phú Thái càng tốt), thường là hàng rể để làm cầu nối giữa 2 gia đình. Các bài nói chuyện với nhà gái từ lúc dạm hỏi cho tới khi đón dâu về nhà được trình bày rất cặn kẽ. Nghiên cứu kỹ những bài nói này cho thấy Ngươi Tày Đà Bắc có chung phong tục tập quán với dân tộc Thái ở Sơn La: chẳng hạn như câu: “...híp Mốc, khong Xạng...” nghĩa là tập tục này xuất phát từ Mường Mộc và Mường Sang, thuộc huyện Mộc Châu (Sơn La). Các bài nói mà người Tày gọi là “Tày xồng” nghĩa là kể lai lịch ba đời gần nhất… cho tới thế hệ cô dâu hoặc chú rể. Quá trình tìm hiểu của đôi uyên ương và chuẩn bị cưới ra sao được ông mối thay mặt họ nhà trai trình bày trước gia đình nhà gái. Đáp lại gia đình nhà gái cũng phải bố trí một người tài giỏi tương đương để đáp lễ. Nếu thuộc làu và trình bày lưu loát thì cũng phải hết một tiếng rưỡi đến hai tiếng đồng hồ. Sau khi ổn định nhà cửa có con đàn cháu đống (với trước kia). Người Tày Đà Bắc có tục làm đám cưới vàng (gọi là hết Đọng). Tập quán này hiện vẫn còn duy trì trong cộng đồng người Tày. Quá trình chuẩn bị cũng rất công phu phải có ít nhất ba đầu lợn, đôi vòng bạc trắng, bộ váy áo thêu thùa rất cầu kỳ được gọi là bộ váy áo đong, bộ này cô dâu chỉ được mặc khi có đại lễ trong gia đình như tết nguyên đán, đám tang bố mẹ chồng. Nó chứng tỏ là con dâu chính thức đã nhập họ nhà chồng, (nếu là dâu trưởng thì có vị thế nhất định trong dòng tộc: được tham gia bàn bạc và quyết định các việc lớn trong gia tộc…) và một số vật dụng khác như mâm, bát, đĩa và dụng cụ để ủ rượu. Đặc biệt ông mối kỳ này phải gánh thêm vai trò đi xin vía trên Mường Then (mường tưởng tượng của người Tày, có sách hướng dẫn đi đường bằng chữ Thái…) dĩ nhiên thầy mo phải đọc thông thạo chữ để có thể hành lễ chính xác, trường hợp ông mối không biết chữ thì đi nhờ người khác và phải chia đôi lễ vật do nhà chủ thưởng cho theo phong tục.

 

Chính những địa danh được nhắc đến trong cuốn sách cổ đã giúp người viết bài này tìm hiểu thực tế: đó là các nơi như: Mường Muội, Mường Lay, Mường Mun, Mường Va (Mương Mun kịn kháu chặm cha, Mương Va kịn kháu chặm hé)… là những địa danh thuộc tỉnh Sơn La, một số thuộc huyện Quan Hóa tỉnh Thanh Hoá (nắm Má phong khảo, tang pạy Lao xọc cá) là những nơi cư trú của người Thái. Mặt khác qua các băng đĩa về hội diễn, nghe chương trình phát thanh văn nghệ của đài Sơn La, Thanh Hóa và băng, đĩa về  đám cưới đám tang của đồng bào Thái; hầu hết người Tày Đà Bắc đều cảm nhận như chính quê hương mình. Các tập quán khác như hán khuồng (Đà Bắc gọi là khuồng nang dơ) là nơi trước kia để trai gái tìm hiểu nhau và trổ tài ca hát. Khuồng được tổ chức vào những đêm trăng sáng từ đêm 13 đến 15 tháng 10, tháng 11 âm lịch. Khi đó mọi công việc thu hoạch đã xong xuôi. Khuồng nang dơ thu hút rất nhiều người không chỉ thanh niên chưa có gia đình mà còn có cả ông già bà lão. Trò chơi có t2 đến 3 người biết khắp như nhau. Người quản trò chính rất tài giỏi ngoài việc thuộc làu các bài khắp họ còn phải giữ vai trò ông tơ bà nguyệt xe duyên cho biết bao đôi uyên ương.

 

Do sự bùng nổ của các phương tiện nghe nhìn hiện đại và nhận thức của một bộ phận nhân dân  nên tập quán truyền thống này hiện không còn nữa. Người quản trò cũng đã ở vào tuổi “bát thập”. Điều quan trọng là lời câu khắp trong trò chơi này là cả một tuyệt tác văn học Tày- Thái, đưa con người ta đi du lịch về lại tổ tiên từ nơi cư trú huyện Đà Bắc, ngược dòng sông Đà lên các vùng Tây Bắc như: Tủa Chùa, Mường Muộc, Mường Muội, Mường Muốn, Mường Thanh… Phải chăng tổ tiên của người Tày Đà Bắc là ở miền Tây Tổ quốc? Từ đoạn sau của bài khắp là những nơi tưởng tượng của người sáng tác như đi rủ nữ thần mặt trăng và các ngôi sao về chiếu mệnh cho cặp đôi nào may mắn nhất lấy được nhau sau này. Đêm về khuya trăng đã tàn cũng là lúc khuồng  kết thúc. Quản trò có lời chúc đôi nào hái được bông hoa hợp nhau thành vợ thành chồng, sau đó có nhiệm vụ tiễn nữ thần về trời bằng câu khắp tạm biệt nghe da diết bồi hồi. Được biết gần đây trò chơi này được phục dựng lại ở một số nơi có cộng đồng người Thái sinh sống theo kịch bản mới “Làng vui chơi, làng ca hát” do Đài truyền hình Việt Nam tổ chức.

 

Tuy nhiên những tập quán tốt đẹp mang đậm chất văn hoá dân tộc đó đang bị mai một dần, thậm chí những từ cổ gắn liền với các câu “Khắp”, câu “Xạn” nghe thiết tha xốn xang lòng người nay không mấy được lớp trẻ mặn mà nữa. Tập tục  khiêng  lợn , gạo rượu đến nhà gái làm bữa cơm thân mật để sáng ra đón dâu về nhà không còn  mà thay vào đó đám cưới được tổ chức y hệt như miền xuôi. Thanh thiếu niên không còn thích mặc những bộ váy áo thêu thùa cầu kỳ nữa. Rất may là ở một số trường vùng cao do nhận thức của các thầy cô giáo và phụ huynh mà bắt buộc học sinh  mặc trang phục dân tộc mình  đến lớp nhất là vào sáng thứ hai trong tiết chào cờ phần nào giúp các em nhớ về bản sắc riêng độc đáo  dân tộc mình. Đồng thời các cấp học cũng đưa các trò chơi dân gian dân tộc ít người và các bài hát dân ca vào dạy trong các trường học do thành viên mạng lưới “Bảo tồn và phát triển tri thức bản địa dân tộc Thái- VTIK” tác động với chính quyền và ngành giáo dục.

 

Qua nghiên cứu một số tập quán còn lưu giữ trong cộng đồng người Tày được ghi chép trong các cuốn sách cổ và so sánh với các hoạt động văn hoá khác của dân tộc Thái cho thấy: phong tục tập quán của người Tày ở huyện Đà Bắc có nhiều nét giống với tập quán của người Thái. Mặt khác theo lời kể truyền miệng của các cụ thì ông cha ta trước kia di cư từ Mường Tè (một làng ven sông thuộc Mường Mộc- tức huyện Mộc Châu- Sơn La) xuôi theo dòng sông Đà và ngược các con suối lớn của lưu vực sông họ gặp các bưa bãi bằng và bắt đầu dựng nhà cửa khai phá đất đai lâu dần thành các bản làng người Tày như ngày nay. Các tập quán khác như tiếng nói, chữ viết, trang phục của đồng bào Tày cũng theo đó mà được lưu giữ, bảo tồn cho đến bây giờ.

 

  

Đức Chôm

Xã Trung Thành- Đà Bắc- Hòa Bình

 

 

Nguồn: Đức Chôm
CÁC BÀI LIÊN QUAN
Những cổ vật Chăm ở miền quê người Thái Nghệ An
Sách: Âm nhạc dân gian dân tộc Thái ở Nghệ An
Sách: Lịch sử hình thành và phát triển Mường Ham
LỊCH THÁI 2012
Luật tục người Tày huyện Đà Bắc với những biện pháp bảo vệ và phát triển rừng
Sách: Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An
TÍN NGƯỠNG TRONG CÔNG VIỆC NHUỘM CHÀM CỦA NGƯỜI THÁI
Hoa văn trang trí của người Thái Tây Bắc
Trang phục - Nét đặc trưng trong văn hóa Thái
DẪN HỒN TRÂU VỀ MƯỜNG THEN
Bản quyền thuộc Trung tâm Công nghệ Thông tin Thừa Thiên Huế