Document
Đóng
TÍN NGƯỠNG TRONG CÔNG VIỆC NHUỘM CHÀM CỦA NGƯỜI THÁI

Sầm Văn Bình

 

Thổ cẩm là một trong những thành tố tạo nên bản sắc độc đáo của dân tộc Thái. Trước kia y phục của người Thái cả nam lẫn nữ đều không thể thiếu vắng các loại vải được nhuộm bằng màu chàm. Những nguyên liệu để làm nên một nồi nước chàm nhuộm áo váy của người Thái thông thường chỉ có ba thứ: lá cây chám, lá cây hỏm, hoặc lá cây mục. Mỗi loại trong ba thứ lá đó đều có thể làm nên một nồi nước chàm. Tuy nhiên, các bà vẫn thích sử dụng lá chám và lá hỏm hơn.

 

Cây mục là loại cây thân gỗ, chiều cao có thể đạt đến 5 mét. Cây chám và cây hỏm thuộc dạng thân thảo, chiều cao chỉ trên dưới một mét và thường được trồng thành đám. Các bà các cô chọn cắt lá còn tươi, có thể để nguyên cả các cành nhỏ, rồi ngâm vào nước sạch đựng trong những nồi nin. Chỉ có loại nồi bằng đất nung có dung tích đến cả chục lít mới được sử dụng để làm nồi nin. Trên nhà sàn của người Thái, các nồi nin thường chỉ được đặt ở gian sau, còn gọi là gian chàn. Nồi được kê trên các rế bện bằng rơm. Khi có khoảng ba nồi nin trở lên đặt cạnh nhau thì người ta gọi đó là một mù nin. Một mù nin tốt thì sẽ nhuộm được nhiều váy áo, màu chàm tím đen óng đẹp và có một mùi thơm đặc trưng riêng biệt. Mù nin đầu lại còn phải nuôi được nhiều “nước cốt” để làm “vía lành” cho các mù nin khác về sau. Chỉ có các cô các bà khéo léo và chịu khó, nhẫn nại mới tạo được những mù nin như vậy- bởi công đoạn nhuộm chàm đòi hỏi phải đi qua nhiều bước và mất nhiều thời gian.

 

Thời gian ngâm lá được tính trong vòng từ hai đến bốn ngày tuỳ theo thời tiết là mùa hè hoặc mùa đông. Đủ thời gian ngâm, họ vớt hết cả cành cả lá ra và vắt kiệt, sau đó gạn lấy phần nước sạch không có lẫn tạp chất, thêm vào một ít vôi bột rồi khoắng cho sủi bọt càng nhiều càng tốt. Tiếp đó để lắng rồi rót nhẹ để đổ phần nước trong ở phía trên đi, phần nước sẫm màu hơn ở dưới đáy nồi nin sẽ được dồn lại với nhau, đậy điệm cẩn thận rồi để yên như thế trong suốt ba ngày nữa, cho đến lúc thấy xuất hiện một lớp váng mỏng màu tím đen thì mới lại khoắng tiếp. Đến công đoạn này cả mù nin đã dậy lên một mùi thơm đặc trưng, nếu nước chàm đen đã bám hẳn vào tay thì chứng tỏ là nin đã đủ độ bám, màu chàm đã đủ bền, đã có thể cho vải, sợi, tơ... vào để nhuộm. Trước khi tiến hành nhuộm, người ta còn cẩn thận lấy một vài loại cành lá cây, như cành cây dâu hoặc lá cây đại bi…, được coi là có tác dụng xua đuổi tà ma, đến huơ vài lượt phía trên và xung quanh để bảo vệ mù nin. Họ cho rằng với các mù nin xấu, tức là các mù nin bị hỏng và có mùi thối khó ngửi, phải đổ bỏ đi là do bị tà ma làm hại. Trong quá trình nhuộm chàm, phải để dành lại một nồi nin làm nồi “nước cốt” để bổ sung cho các nồi bị nhạt màu đi. Phần “nước cốt” này không bao giờ được sử dụng hết trong mù nin đầu mà phải để dành lại một ít để “truyền vía” cho các mù nin khác về sau. Trong công đoạn nhuộm chính thức, phải tránh được sự gián đoạn công việc được càng nhiều càng tốt. Thế nên các bà các cô thường cố gắng tạo ra một không gian khá biệt lập ngay tại gian chàn của nhà sàn, chọn cái ghế mây thật vừa tầm để tạo tư thế thoải mái khi ngồi nhuộm chàm.  Nhúng tấm vải vào nồi nin để nhuộm, họ phải bóp xuôi bóp ngược, nhào đi nặn lại trong nước chàm đến cả buổi. Tiếp đó ngâm thêm vài tiếng đồng hồ nữa, rồi lại tiếp tục nhuộm, bóp... Khi thấy màu chàm đã ăn đậm vào tấm vải thì đem xuống suối giặt, rồi tiếp tục cho vào nồi nin nhuộm thêm một quá trình nữa... Công đoạn cuối cùng là dùng nước luộc có vị rất chát từ vỏ cây phạt để hãm màu. Tóm lại, toàn bộ thời gian dùng cho việc nhuộm chàm chỉ với một sản phẩm cũng phải hết từ 4 đến 5 ngày.

 

Màu chàm đẹp được người Thái ví là: “đen óng như màu lông cánh của quạ, đen bền chắc như màu cánh con niềng niễng. Những người có duyên với việc nhuộm chàm vẫn cho rằng, nếu người nào may mắn nhặt được một cái lông cánh của con quạ đen, thì phải cởi ngay chiếc áo đang mặc trên người để gói lại, đem về nhà lén bỏ vào cái nồi hông rồi cất vào một chỗ kín đáo không cho người khác biết. Khi chọn được giờ lành ngày tốt, họ sẽ bí mật nhét cái lông cánh quạ quý giá đó xuống dưới đáy của nồi nin gốc- thường dùng để nuôi nước đầu bổ sung cho các nồi nin khác... Họ vững tin rằng từ đấy về sau thì mù nin của họ sẽ không bao giờ bị hỏng.

 

Bởi có quan niệm về chuyện làm hại của tà ma, nên người phụ nữ nhuộm chàm cũng rất kiêng sự phạm mạo, không cho những người bị cho là “nặng vía” hoặc “bị ma ám” đến gần nin của mình. Họ cũng tôn thờ nữ thần phù hộ độ trì cho các nồi nin của họ. Vị nữ thần đó được họ gọi là nhà nin, hoặc cũng gọi là náng nin(1). Vào các dịp lễ tết, họ tìm cho bằng được một con gà đen làm thịt, luộc chín để cúng vía cho nhà nín, náng nin. Mâm cúng được đặt ngay cạnh mù nin, trong mâm chỉ đơn giản có gà luộc, cơm rượu, chút muối và trầu cau. Nội dung nguyên văn trong lời cúng của họ cơ bản như sau:

 

Xảm xíp mè nín thau

Cau họi mè nín Láo                     

Xáo xỏng mè nín hom                           

Lục má dù pạc óm, tỏm pạc mo   

Má ho pạc nín                             

Kh­ư lục má kín phai đẳm            

Má chắm phai òn                        

Hơ đẳm liên nừng pịch cả           

Đẳm nả nừng pịch niềng             

Xiểng pườn hiệc cụn tơ nhá mứa 

Xiểng p­ườn hiệc cụn nửa nhá hư­n         

Má cư­ dù pạc óm, tỏm pạc mo     

Cư ho pển tùng náng nín.            

 

Dịch:

 

Xin mời gọi ba mư­ơi bà chủ nin(1)  già

Cùng chín trăm nàng nin đẹp đất Lào

Với cả hai mươi hai bà chủ hỏm

Cùng tỉnh dậy,

Đến quây quần quanh miệng nồi nin

Hãy ngấm vào trong cuộn sợi đen

Hãy bám vào trong cuộn sợi mềm

Để đ­ược cuộn sợi đen óng tựa lông cánh quạ

Đen chắc đen bền như cánh niềng niễng d­ưới khe

Dù nghe tiếng người gọi ở m­ường dưới chớ theo

Nghe tiếng ng­ười kêu ở mường trên đừng đáp

Hãy ở đây, đậu quanh miệng các nồi nin này

Cho nổi danh tùng(2) của các nàng nin

 

Khi cúng xong thì phải ăn ngay tại chỗ, phần xương gà nhất thiết không được bỏ đi mà phải chia đều ra rồi gói lại thành từng gói nhỏ, nhét xuống dưới đáy các nồi nin...

 

Ngày nay, do đã có sẵn nhiều loại phẩm nhuộm với chất lượng rất tốt và bền màu; vải vóc các loại được bày bán rất nhiều tại chợ phiên hầu như không thiếu thứ gì; với lại các bà các cô mặc trang phục truyền thống cũng ít dịp hơn, v.v… nên chẳng mấy khi còn gặp được một mù nin của bà hay cô nào đó. Tuy vậy, như lời của một số bà đang tiếp tục làm công việc này và đang gìn giữ, truyền dạy cho con cháu cách làm các mù nin, cho biết: nhiều người vẫn muốn tìm mua loại sợi đen nhuộm chàm để dùng dệt may các loại y phục cổ truyền, dùng vào nhiều công việc liên quan đến các tập tục cổ truyền của người Thái, kể cả sử dụng làm dây vía trong các lễ buộc chỉ cổ tay (hăng vẳn) rất phổ biến trong sinh hoạt tín ngưỡng dân tộc Thái. Trong lễ này, họ cho rằng phải sử dụng đúng loại chỉ nhuộm chàm để làm dây buộc vía thì con người mới được khoẻ mạnh bình an đúng theo ý nghĩa của tập tục này./.

 

Sầm Văn Bình (Nghệ An)

 

Chú thích:

 

(1): nang nin, nhà nin, chủ nin, chủ hỏm- các bà nàng và nữ thần phù hộ cho công việc nhuộm chàm của phụ nữ Thái.

 

                 

(2): tùng- nhiều nồi n­ước chàm đặt chung cùng một nơi được gọi là tùng nin, thể hiện két quả của một ng­ười phụ nữ giỏi giang trong việc nhuộm chàm.


 

CÁC BÀI LIÊN QUAN
Những cổ vật Chăm ở miền quê người Thái Nghệ An
Sách: Âm nhạc dân gian dân tộc Thái ở Nghệ An
Sách: Lịch sử hình thành và phát triển Mường Ham
LỊCH THÁI 2012
Luật tục người Tày huyện Đà Bắc với những biện pháp bảo vệ và phát triển rừng
VỀ DÂN TỘC TÀY ĐÀ BẮC - HÒA BÌNH QUA MỘT SỐ PHONG TỤC TẬP QUÁN
Sách: Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An
Hoa văn trang trí của người Thái Tây Bắc
Trang phục - Nét đặc trưng trong văn hóa Thái
DẪN HỒN TRÂU VỀ MƯỜNG THEN
Bản quyền thuộc Trung tâm Công nghệ Thông tin Thừa Thiên Huế